from LMK: Were There “Lạc” Kings or “Hùng” Kings? Or Neither?
Có các vua “Lạc” hoặc có các vua “Hùng” hay không? Hay là chẳng có cả hai?
Liệu những người đầu tiên chiếm cứ trên khu vực ngày nay là miền Bắc Việt Nam có được gọi là các vua “Lạc” hay các vua “Hùng” – đây là một câu hỏi được tranh luận nảy lửa trong gần một thế kỉ nay. Học giả người Pháp, Henri Maspero, đã bắt đầu cuộc tranh luận này hồi đầu thế kỉ XX khi ông nhận thấy rằng ở trong các nguồn sử liệu Trung Quốc – những nguồn tư liệu đầu tiên về đề tài này, thì các ký tự “雒” (lạc) và “雄” (hùng) đều đã xuất hiện. Maspero đã kết luận rằng một thư lại Trung Quốc đã viết lầm chữ “雄” (hùng) thay vì phải viết chữ “雒” (lạc) (hai kí tự này khá giống nhau và có hàng tá bằng chứng cho thấy trong các ngữ cảnh khác, chúng bị lẫn lộn cái này với cái kia), và cho rằng trong những thế kỉ sau đó, người Việt Nam đã chỉ là rập lại cái lỗi sai về chép lộn kí tự này.
Maspero được coi là một học giả có năng lực, nhưng lập luận của ông trong bài viết này đã để lại rất nhiều điều để chất vấn. Thái độ của ông – rằng người Việt Nam đã chỉ đơn giản sao chép một lỗi sai mà không hề nhận ra nó – đã hạ thấp người Việt Nam, và vì thế chẳng có gì ngạc nhiên là cuối cùng nó đã gây ra hàng loạt tranh luận. Trong cuối thập niên 60 và đầu những năm 70 của thế kỉ XX, sự tranh luận này đã đi đến một kết luận “mang tính chính trị” để bảo vệ chữ “hùng” (một điểm mà tôi sẽ viết trong một entry sau), nhưng nó đã chưa bao giờ đi đến một kết luận mang tính học thuật.
Tôi đang đọc nhiều bài viết về đề tài này, nhưng có lẽ chưa phải là tất cả. Vì vậy có thể ai đó đã từng nói những gì tôi sẽ thảo luận ở đây. Nếu ai đó đã làm điều đó, thì thực tế là tôi chưa có cơ hội được đọc lập luận của họ. Vì vậy, nếu ai biết về những ý kiến, luận điểm của bất cứ ai khác cũng giống như lập luận ở đây, xin vui lòng cho tôi được biết.
Trong khi các học giả đã tranh luận một cách vô tận về việc “雒” (lạc) hay “雄” (hùng) chữ nào là đúng, thì tôi chưa từng thấy ai thảo luận về những đoạn văn bao chứa các chữ này trong các sử liệu Trung Quốc. Những đoạn viết đó, tuy nhiên, lại cung cấp các manh mối rõ ràng nhất về vấn đề thuật ngữ nào là “đúng.”
Có hai nguồn tư liệu chính cho các cuộc tranh luận này. Cụ thể là, có một nguồn tư liệu trong đó sử dụng các thuật ngữ “雒” (lạc) và một nguồn khác trong đó sử dụng thuật ngữ “雄” (hùng). Ngoài hai nguồn tư liệu này ra, có những nguồn tư liệu khác, nơi mà thông tin này xuất hiện, nhưng các nguồn khác rõ ràng là những phiên bản giản lược của hai đoạn văn dài đã xuất hiện trong Giao Châu ngoại vực kí [交州外域記, Jiaozhou waiyu ji - Record of the Outer Territory of Jiao Region - Ghi chép về lãnh thổ rìa ngoài của châu Giao] và Nam Việt chí [南越志, Nanyue zhi Treatise on Southern Yue]. Cả hai thư tịch này đến này đều không còn, nhưng những đoạn viết thuộc hai thư tịch này được trích dẫn trong những sách vở còn đến ngày nay.
***
Chúng ta sẽ xem nguồn tư liệu thứ nhất. Giao châu ngoại vực kí là một thư tịch mà những bằng chứng văn bản học của nó chỉ ra niên đại của nó hoặc là vào cuối thế kỉ thứ Ba hoặc vào đầu thế kỉ thứ Tư sau công nguyên. Đoạn văn bản dưới đây được trích dẫn trong một văn bản có niên đại ở thế kỷ thứ Sáu, tức văn bản Thủy kinh chú [水经注, Shuijing - Annotated Classic of Waterways - Chú giải bộ kinh về đường thủy(?!)] của Li Dao Yuan (酈道元).
交州外域記曰,交趾昔未有郡縣之時,土地有雒田,其田從潮水上下,民墾食其田,因名為雒民。設雒王雒侯主諸郡縣。縣多為雒將。雒將銅印青綬。
Giao châu ngoại vực kí viết: “Giao Chỉ tích vị hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu lạc điền, kì điền tòng triều thủy thượng hạ/thướng há, dân khẩn thực kì điền, nhân danh vi lạc dân. Thiết lạc vương lạc hầu chủ chư quận huyện. Huyện đa vi lạc tướng. Lạc tướng đồng ấn thanh viện.”[1]
| “The Record of the Outer Territory of Jiao Region states that ‘In the past, before Jiaozhi had commanderies and districts, the land had lạc fields. These fields followed the rising and falling of the floodwaters, and therefore the people who opened these fields for cultivation were called lạc people. Lạc princes and lạc marquises were appointed to control the various commanderies and districts. Many of the districts had lạc generals. The lạc generals had bronze seals on green ribbons.’” | Giao châu ngoại vực kí nói rằng: ‘Jiaozhi/ Giao Chỉ thời xưa khi chưa có quận huyện, đất đai (thì) có ruộng lạc. Những ruộng này theo (sự) lên xuống của con nước, và người dân cày cấy lấy cái ăn [ở] ruộng đó vì thế được gọi là dân lạc. Đặt các ông hoàng lạc (lạc vương), các ông quan lạc (lạc hầu) cai quản ở các quận huyện. Nhiều huyện có tướng lạc (lạc tướng). Các tướng lạc có dấu đồng và dải xanh.’ |
Điểm đầu tiên cần lưu ý là người viết ở đây không chứng tỏ rằng anh ta đang quan sát khu vực này vào thời điểm khi ở đó chỉ có những người dân “lạc” sinh sống. Những điều được nói đến trong đoạn này được ghi lại sau khi nhà Hán đã thành lập “các quận và huyện” ở khu vực này.
Điểm tiếp theo cần lưu ý là chữ này, lạc 雒, không để biểu đạt nghĩa. Nó biểu đạt một âm đọc (sound), đó là, một từ từ một ngôn ngữ khác Trung Quốc (a word from a non-Chinese language). Từ này đã có nghĩa là gì? Nhiều học giả giải thích nó có nghĩa là một cái gì đó liên quan đến phát ngôn “其田從潮水上下” (These fields followed the rising and falling of the floodwaters. / “Những ruộng này theo (sự) lên xuống của con nước.”) bởi vì văn bản sau đó nói rằng “cho nên (因) người dân…”
(Lưu ý: 潮 có thể có nghĩa là “thủy triều” (tide), nhưng nó cũng dùng để chỉ mực nước sông tăng lên. Trong ngữ cảnh này, tôi thấy “floodwaters” (con nước tràn) có ý nghĩa hơn.)
Cuối cùng, thực sự có vấn đề khi chúng ta nhìn vào những phát ngôn cuối cùng trong đoạn văn nếu để nói về khu vực này ở giai đoạn trước khi người Trung Quốc kiểm soát.
“Đặt các ông hoàng lạc (lạc vương), các ông quan lạc (lạc hầu) cai quản ở các quận huyện. Nhiều huyện có tướng lạc (lạc tướng). Các tướng lạc có dấu đồng và dải xanh.”
Ai đã đặt/ giao quyền (設) cho các ông hoàng lạc (lạc vương)? “Dấu đồng và dải xanh” của họ là những cái gì? “Quận và huyện” là một phần của hệ thống chính trị Trung Quốc. Như thế, phát ngôn này dường như đang nói rằng đã có những người dân trong cái khu vực được gọi là “lạc,” và sau đó, sau khi nhà Hán nắm quyền kiểm soát, người dân lạc được giao quyền/bổ nhiệm để thay mặt người Trung Quốc cai trị khu vực này – và đây là một hiện tượng rất phổ biến tại thời điểm đó.
(Xin lưu ý: các chữ王 (vương) có thể được dịch là “vua” hay “hoàng tử/ông hoàng.” Vì đoạn này có vẻ chỉ ra rằng có hơn nhiều hơn một loại người này, nên tôi dịch nó ở đây là “hoàng tử/ông hoàng”.)
***
Nguồn tư liệu thứ hai là Nam Việt chí (có thể có niên đại vào thế kỉ 5 ?) được lưu giữ trong Thái Bình quảng kí [太平廣記, Taiping guangji - Wide Gleanings Made in the Taiping Era – Sự ghi chép rộng dưới niên hiệu Thái Bình] (sách có niên đại thế kỉ 10).
交趾之地頗爲膏腴,徙民居之,始知播植,厥土惟黑壤,厥氣惟雄,故今稱其田為雄田,其民為雄民,有君長亦曰雄王,有輔佐焉亦曰雄侯,分其地以為雄將。(出南越志)
Giao Chỉ chi địa phả vi cao du, tỉ dân cư chi, thủy tri bá thực, quyết thổ duy hắc nhưỡng, quyết khí duy hùng, cố kim xưng kì điền vi hùng điền, kì dân vi hùng dân, hữu quân trưởng diệc viết hùng vương, hữu phụ tá yên diệc viết hùng hầu, phân kì địa dĩ vi hùng tướng. (xuất Nam Việt chí)[2]
| “The area of Jiaozhi is quite fertile. Migrants settled there, and it was only then that [the original inhabitants?] learned how to cultivate by broadcasting seeds. The soil is dark and fertile, and the qi is strong [hùng]. Therefore, now the fields are called hùng fields, and the people, hùng people. There are leaders who are called hùng kings. There are assistants who are called hùng marquises, and the land is divided among hùng generals (This comes from the Treatise on Southern Yue).” | Vùng đất Jiaozhi/ Giao Chỉ tương đối màu mỡ. Di dân đến sống ở đó, mới bắt đầu biết gieo trồng. Đất ở đây rặt là đất phì nhiêu đen. Khí ở đây mạnh (hùng). Cho nên bây giờ gọi những ruộng ở đây là ruộng hùng, dân ở đây là dân hùng. Có người lãnh đạo tối cao (quân trưởng) cũng gọi là vua hùng (hùng vương). Có những người phụ tá ông ấy [tức ông vua hùng] thì cũng gọi là quan hùng (hùng hầu). Chia đất ở đây để cho các tướng hùng (hùng tướng). (Đoạn này được rút từ Nam Việt chí) |
Điểm đầu tiên cần lưu ý ở đây là sự đề cập đến “quân và huyện” đã biến mất. Văn bản này không chỉ ra rằng nó đang đề cập đến một thời điểm nào đó trong quá khứ, như trước thời kì cai trị của Trung Quốc, như là cách được đề cập đến trong Giao châu ngoại vực kí.
Điểm tiếp theo cần lưu ý là chữ雄 (hùng) ở đây có biểu đạt nghĩa, không phải là một âm đọc như là 雒 (lạc) trong văn bản Giao châu ngoại vực kí. Khí trong đất là mạnh (hùng), và bởi vì thực tế ấy mà người dân ở khu vực này được gọi là hùng.
Nói cách khác, người viết này không đơn giản chỉ là chép nhầm tự dạng nên viết 雄 (hùng) khi anh ta đáng ra cần viết là 雒 (lạc). Trái lại, anh ta đã thay đổi rõ ràng đoạn văn này để làm cho nghĩa của thuật ngữ 雄 (hùng) – với nghĩa “mạnh mẽ” được ăn khớp. Để làm điều đó, anh ta đã thêm thông tin ở phần mở đầu về việc đất đai phì nhiêu và khí đất mạnh, và sau đó, anh ta đã tạo ra một nối kết trực tiếp giữa từ này [tức chữ “hùng”] theo nghĩa “mạnh mẽ” với những tên gọi các ruộng và người dân.
Nếu bằng chứng đó về mức độ người viết này đã “tạo tác” thông tin ở đây vẫn là chưa rõ, chúng ta cũng nên chỉ ra rằng cụm “厥土惟黑壤” (the soil is light and fertile // đất ở đây rặt là đất phì nhiêu đen) là một bản sao rất rất gần với một dòng trong thiên Vũ cống (禹貢, Yu gong – Tribute của Yu) của sách Thượng Thư [尚書, Shangshu - Venerated Documents], nơi mà dòng đó được ghi là “厥土 惟白壤” (the soil is dark and fertile // đất ở đây rặt đất phì nhiêu trắng). Những người biết chữ Hán cổ sẽ dễ dàng thấy rằng đây không phải là một cách diễn đạt thông thường. Người viết này chắc chắn đã bắt chước dòng này từ Thượng Thư. Trong đoạn văn từ Giao châu ngoại vực kí không có bằng chứng tương tự rằng nó có “vay mượn” từ những văn bản khác.
Cuối cùng, cũng không có nhắc nhở nào trong đoạn văn này về những ông quan, ông tướng được bổ nhiệm. Thay vào đó, cái chúng ta tìm thấy ở đây là người cai trị có chủ quyền, không hề chịu sự kiểm soát nào.
***
Xét tất cả những điều trên lại, rõ ràng là đoạn văn thứ hai này là một phiên bản có chuyển đổi thông tin từ văn bản sớm hơn trước nó, văn bản Giao châu ngoại vực kí. Người viết đã thay đổi chữ 雒 (lạc) thành chữ có tự dạng tương đồng là 雄 (hùng) sao cho nó sẽ mang nghĩa, thay vì nó chỉ biểu đạt một âm đọc từ một thứ ngôn ngữ ngoại lai, mà ý nghĩa của từ thì không được rõ ràng. Anh ta sau đó đã thay đổi toàn bộ đoạn văn bằng cách thêm thông tin mới về sự màu mỡ của đất (và bỏ đi các thông tin về con nước tràn) để các chữ雄 (hùng) sẽ có một ngữ cảnh mà nghĩa của nó trở nên có nghĩa. Và cuối cùng, anh ta bỏ đi cái ngữ cảnh lịch sử mà Giao châu ngoại vực kí đã cung cấp, bằng cách bỏ đi những đề cập liên quan đến sự cai trị của nhà Hán.
***
Người Việt Nam sau đó đã làm gì? Liệu có phải họ chỉ đơn giản sao chép cái sự chép sai đó, như Maspero tuyên bố? Không, họ đã tạo tác ra cái gì đó mới. Đây là một câu chuyện dài, những chi tiết trong đó sẽ phải chờ đến một entry khác, nhưng cơ bản là người Việt Nam đã “kết hợp” (combined) thông tin từ cả hai nguồn trên. Trong ĐVSKTT của Ngô Sĩ Liên, có những ông vua Hùng là người bổ nhiệm/giao quyền cho “tướng văn được gọi là lạc hầu, tướng võ được gọi là lạc tướng.”
Cuối cùng, tuy nhiên, cái hầu hết chúng ta có lẽ có thể nói là trong thời kì trước công nguyên này đã có những người dân ở khu vực mà những người này được người Trung Quốc gọi là “lạc” (chưa rõ tại sao, và thuật ngữ này được dùng [để chỉ] người dân ở các khu vực khác – những khu vực mà ngày nay là miền Nam Trung Quốc). Chúng ta có lẽ cũng có thể nói rằng những người dân “lạc” này được thu dùng để cai quản những khu vực ở một cấp độ mang tính địa phương cho người Trung Quốc. Các thuật ngữ dùng cho “ông hoàng/hoàng tử” và “quan/hầu” có nguồn gốc Trung Quốc, nên chúng ta có thể giả định rằng người dân “lạc” đã không dùng những từ này (lạc vương, lạc hầu) để chỉ những người cai trị của chính họ. Giao châu ngoại vực kí cũng cho thấy những người được bổ vào các vị trí đó (vương, hầu) là để cai quản “quận và huyện,” có nghĩa là, cai quản các đơn vị hành chính Trung Quốc. Nói cách khác, Giao châu ngoại vực kí không cho chúng ta biết bất cứ điều gì về những người cầm quyền tối cao của khu vực này ở giai đoạn trước khi có sự kiểm soát của người Trung Quốc, mà lại là nói với chúng ta như về nhóm người được gọi là lạc, hoặc có lẽ chỉ người Trung Quốc đã gọi họ là người lạc.
Vì vậy, liệu đã có các ông vua “Lạc” và các ông vua “Hùng.” Như những điều chúng ta có thể nói đến lúc này, chẳng có vua Lạc cũng không có vua Hùng. Có những người dường như là các ông hoàng Lạc, những người liên kết với người Trung Quốc, nhưng đó là tất cả những gì chúng ta biết. Người lạc chắc chắn đã có người cai trị của chính họ trước khi người Trung Quốc đến, nhưng chúng ta không có cách nào biết được rằng họ được gọi là gì.
[1] Link tới trang văn bản từ Tứ khố toàn thư: Giao châu ngoại vực kí
[2] Link tới trang văn bản từ Tứ khố toàn thư: Nam Việt chí
5 Comments
Thật là một trùng hợp ngẫu nhiên khi mà những ngày gần đây, trong một phạm vi nhỏ tôi đã tham gia vào một cuộc tranh luận có liên quan đến “Lạc” với “Hùng”…Có lẽ tôi sẽ đưa lên blog mình những bài viết có liên quan đến đề tài này mà tôi đã lập thư mục, bao gồm các bài báo trên “Văn sử địa”, “Tri Tân”, “Thanh nghị”…vvvv. Những bài báo này đều ở dạng scan, nếu bác cần tôi có thể gửi thẳng cho bác.
Nếu tài liệu không còn bản quyền thì sao không post cả lên mạng cho mọi người cùng đọc. Tôi là dân bán chuyên nghiệp, tức là biết kiểu mỗi thứ một tí… mà theo những thứ biết ít ỏi ấy thì thấy… (upset) tìm tài liệu qua các site của Trung Quốc và về Trung Hoa trước kia dễ hơn là tìm được mấy cái thứ như Văn sử địa hay Tri Tân… Chị (??? – gọi thế nào nhỉ?)/ bạn Quach Hien mà share cái thư mục đó thì tuyệt quá!!! Tôi là người VN đầu tiên very grateful to you!!!
饒宗頥, “安南古史上安陽王與雄王問題,” 南洋學報 24.1-2 (1969): 41-50.
“雄王”、”雒王”称谓之辩管见 (On the Debate about the Title of “Hung Kings” and “Lac Kings”) của các tác giả 于向东, 刘俊涛.
Một trong những tài liệu tham khảo của bài viết này là bài viết mà LMK nhắc tới. Ngoài ra, còn có:
# [2]徐中舒.《蜀王子安阳王史迹笺证》[A]..《徐中舒历史论文选辑》[C].中华书局,1998年.第1403页.
# [3]徐中舒.《蜀王子安阳王史迹笺证》[J].四川地方史研究专集,1980年7月:.
# [4]蒙文通.《越史丛考》[M].人民出版社,1983年.
(but I have no way to ‘steal’ these articles!!)
Cần một cái list các nghiên cứu của học giả Trung Quốc hiện đại về vấn đề Bách Việt/ Lạc Việt…v.v.!